Năm 63, anh ta bảo tôi chấp nhận số phận. Tôi nói bà nội này không hầu hạ nữa đâu!
Tôi kết hôn với Triệu Trường Phong khi anh ấy còn là một sĩ quan nghèo khổ, cấp bậc chỉ huy một trung đội. Năm đó, anh bị thương trở về quê, một chân khập khiễng, mặt mày đầy máu me ngã gục trước cổng nhà tôi. Cả làng không ai dám thu nhận anh. Chính tôi đã cõng anh đi ba dặm đường núi, dùng lọ penicillin cuối cùng cha tôi để lại, kéo anh từ tay Diêm Vương trở về. Sau đó anh trở về đơn vị, tôi đợi anh bốn năm trời. Bốn năm ấy, một mình tôi cày sáu mẫu đất, nuôi mẹ già bại liệt của anh trên giường bệnh, lo cho hai đứa em trai anh ăn học. Trong thư gửi về, anh viết: "Đợi khi anh có thành tựu, việc đầu tiên sẽ là đón em lên thành phố." Tôi tin lời anh. Tôi đợi đến huy chương chiến công của anh, đợi đến thông báo thăng chức, đợi đến căn hộ ba phòng của anh ở thành phố. Nhưng chẳng đợi được tấm vé tàu. Thay vào đó, là một người phụ nữ mặc áo Lenin, tóc uốn xoăn từ đoàn văn công quân đội chuyển đến - Thẩm Lệ Hoa. Cô ta đã dọn vào căn nhà đáng lẽ thuộc về tôi. Triệu Trường Phong viết bức thư cuối cùng. Trên thư chỉ vỏn vẹn một câu: "Quế Trân, em là người tốt. Nhưng anh và Lệ Hoa, là đồng chí cách mạng." Cả làng bảo tôi ngu ngốc. Mẹ chồng chỉ thẳng vào mặt tôi mắng: "Mày đành chịu vậy đi, đàn ông có bản lĩnh, ai chẳng thay vợ? Mày không xứng với Trường Phong." Bà nói câu ấy khi đang xỏ đôi giày bông mới tôi may, ngồi trên giường sưởi tôi nhóm, nhai hạt bí tôi phơi. Đêm đó, tôi không khóc. Tôi đốt hết mười bảy bức thư anh gửi về trong bốn năm, từng lá một. Lửa bập bùng in bóng lên tường, tôi thấy bóng mình - đen đúa gầy gò, lưng còng xuống. Mới hai mươi sáu tuổi đầu. Trông như bà lão bốn mươi. Sáng hôm sau, tôi bắt xe ngựa lên huyện. Tôi không đi tìm Triệu Trường Phong. Tôi tìm đến Hội Phụ nữ.